Chèn ép tủy sống khiến teo cơ

Tháng Năm 29, 2012

Mẹ tôi năm nay 69 tuổi. Năm 2005, do tai nạn giao thông nên mẹ tôi bị gãy một chân phải chuyển đến Bệnh viện CTCH giải phẫu và điều trị. Sau thời gian 1 năm, vết thương đã lành và mẹ tôi có thể đi lại bằng gậy.

Tuy nhiên, trong quá trình điều trị bệnh, bác sĩ chẩn đoán và phát hiện mẹ tôi có bệnh thoái hóa cột sống và loãng xương nặng. Mẹ tôi thường xuyên nhập viện để điều trị bệnh vì thường đau nhức vùng lưng và khớp. Tháng 7-2008, mẹ tôi tiếp tục nhập viện vì bệnh suy tim. Sau thời gian nằm điều trị 1 tháng ở bệnh viện tỉnh, xuất viện, hai chân của mẹ tôi bỗng nhiên không đứng được, ngồi rất khó khăn, hai chân càng lúc càng teo nhỏ.

Xin bác sĩ tư vấn: với tình trạng sức khỏe của mẹ tôi như thế, mẹ tôi có thể liên hệ nơi đâu để điều trị bệnh?

Kim Nguyệt (Vĩnh Long)

- Trả lời của phòng mạch online:

Với những gì bạn mô tả, chúng tôi nghĩ rằng cột sống của mẹ bạn có thể bị gãy xẹp do loãng xương, cộng thêm tình trạng thoái hóa các dây chằng và đĩa đệm gây ra tình trạng chèn ép tủy sống khiến teo cơ.

Thêm vào đó việc điều trị suy tim sẽ khiến mẹ bạn phải nằm một chỗ mà không vận động nhiều nên làm các cơ yếu đi.

Vấn đề của mẹ bạn bây giờ là xác định xem cột sống có bị gãy xẹp do loãng xương hay không? Có tình trạng chèn ép tủy sống hay rễ thần kinh không?

Việc chụp X-quang thường qui và chụp cộng hưởng từ cho phép đánh giá một phần tình trạng loãng xương và sự chèn ép tủy hay rễ thần kinh.

Những bệnh viện có khoa ngoại thần kinh hay chỉnh hình có thể khám và tư vấn cho mẹ bạn tại TP.HCM có nhiều cơ sở có thể khám và tư vấn được như cơ sở 1 BV ĐHYD, BV Chợ Rẫy, BV CTCH, BV 115, BV Nguyễn Tri Phương…

(Theo TTO)


Chẩn đoán, điều trị và phòng bệnh viêm cơ nhiễm khuẩn

Tháng Năm 28, 2012

Viêm cơ nhiễm khuẩn còn gọi là viêm cơ sinh mủ là các tổn thương cơ do vi khuẩn, virut hay ký sinh trùng gây nên. Các loại vi khuẩn gây viêm cơ thường gặp là tụ cầu, đặc biệt là tụ cầu vàng, liên cầu khuẩn, trực khuẩn mủ xanh. Các vi khuẩn kị khí ít gặp hơn. Tuy nhiên nếu chỉ có vi khuẩn trong máu thôi cũng chưa đủ điều kiện gây viêm cơ hay tạo ổ áp-xe. Viêm cơ nhiễm khuẩn chỉ xuất hiện khi có đủ hai yếu tố là có vi khuẩn gây bệnh và cơ bị tổn thương, tổn thương cơ tạo điều kiện cho vi khuẩn xâm nhập, làm “tổ”, phát triển và gây bệnh. Bệnh được mô tả lần đầu tiên bởi Sriba ở vùng nhiệt đới vào năm 1885 nên còn có tên gọi là viêm cơ vùng nhiệt đới. Tại Khoa Cơ xương khớp Bệnh viện Bạch Mai, viêm cơ nhiễm khuẩn chiếm tỷ lệ 2%.

Các yếu tố nguy cơ mắc bệnh viêm cơ nhiễm khuẩn

Đầu tiên là viêm cơ nhiễm khuẩn hay gặp ở những bệnh nhân bị suy giảm miễn dịch. Đó là các bệnh nhân bị đái tháo đường, điều trị corticoid kéo dài, những người suy kiệt… Thứ hai là các tổn thương da như chấn thương, vết thương hở hay mụn nhọt ngoài da. Chính người bệnh thường chủ quan, ít chú ý đến những mụn nhọt, vết thương nhỏ trên cơ thể, mặc dù đây lại chính là đường giúp vi khuẩn xâm nhập vào cơ thể và gây bệnh. Khi bị mụn nhọt, nhiều bệnh nhân nặn mủ ở giai đoạn sớm hoặc trong quá trình chích nặn không đảm bảo vô khuẩn và không chăm sóc vết thương tốt. Thứ ba là các thủ thuật y tế không bảo đảm vô khuẩn như tiêm chích, châm cứu, phẫu thuật, tạo điều kiện thuận lợi cho sự xâm nhập của vi khuẩn vào cơ thể người bệnh.

Các biểu hiện lâm sàng của viêm cơ nhiễm khuẩn

Biểu hiện toàn thân của viêm cơ nhiễm khuẩn là hội chứng nhiễm khuẩn. Người bệnh bị sốt cao, rét run, môi khô, lưỡi bẩn, mắt trũng, hơi thở hôi. Biểu hiện tại chỗ chính là viêm cơ. Bất kỳ cơ nào cũng có thể bị viêm. Có thể một cơ bị viêm hay nhiều cơ bị viêm cùng một lúc. Tuy nhiên có 3 vị trí hay gặp nhất là mặt trước cơ đùi, mông và cơ thắt lưng chậu. Viêm cơ thường trải qua 3 giai đoạn. Giai đoạn đầu thường xảy ra trong 2 tuần đầu. Cơ sưng tại chỗ, có thể kèm đỏ hoặc không, đau và căng nhẹ. Nếu chọc hút sẽ chưa có mủ. Giai đoạn này các triệu chứng thường không rõ ràng nên dễ bị bỏ qua. Thường sau 10-30 ngày, bệnh chuyển sang giai đoạn 2, với biểu hiện cơ to ra, sưng nóng đỏ đau rõ. Khám cơ có thể thấy dấu hiệu bùng nhùng, dấu hiệu phù nề ấn lõm. Chọc hút có thấy mủ. Bệnh thường được chẩn đoán giai đoạn này. Nếu không được chữa đúng cách bệnh có thể tiến tới giai đoạn 3 với các biểu hiện hệ thống, gây ra các biến chứng như áp-xe nơi khác, viêm khớp lân cận, sốc nhiễm khuẩn, suy chức năng thận. Riêng đối với viêm cơ thắt lưng chậu thì triệu chứng tại chỗ khó phát hiện vì cơ ở sâu. Bệnh nhân thường đau ở vùng mạng sườn, hạ sườn. Có một triệu chứng gợi ý là bệnh nhân không duỗi được chân ở bên có cơ bị tổn thương trong khi mọi động tác khác của khớp háng (gấp, dạng, khép, xoay…) đều bình thường. Khối áp-xe có thể di chuyển xuống các cơ quan lân cận phía dưới như khớp háng, phần trên đùi, cơ mông… Ngoài nguyên nhân do các vi khuẩn sinh mủ, viêm cơ thắt lưng chậu còn có thể do vi khuẩn lao gây nên, xuất hiện sau viêm đốt sống đĩa đệm.

Để chẩn đoán bệnh cần phải làm các xét nghiệm gì?

Triệu chứng lâm sàng ở giai đoạn đầu thường không rõ ràng nên đa số các trường hợp chẩn đoán ở giai đoạn muộn. Các xét nghiệm máu cho thấy các biểu hiện viêm rõ như tăng số lượng bạch cầu máu, tăng tốc độ máu lắng, tăng CRP. Cần phải làm xét nghiệm dịch chọc hút cơ viêm. Xét nghiệm dịch ổ áp-xe có thể thấy nhiều bạch cầu đa nhân trung tính. Phát hiện vi khuẩn gây bệnh bằng soi tươi, cấy bệnh phẩm phân lập vi khuẩn và làm kháng sinh đồ. Ngoài ra người ta còn cấy máu để xác định vi khuẩn. Cũng cần làm test Mantoux đối với những trường hợp nghi do lao. Ở một số cơ sở y tế chuyên khoa bệnh nhân có thể được siêu âm cơ với đầu dò tần số cao trên 5 – 7,5 MHz. Siêu âm rất có giá trị trong chẩn đoán các cơ viêm ở sâu như cơ thắt lưng chậu, giúp hướng dẫn chọc hút dịch ổ áp-xe lấy bệnh phẩm xét nghiệm cũng như để dẫn lưu mủ. Chụp Xquang quy ước chủ yếu là để phát hiện các tổn thương xương khớp kèm theo. Chụp cắt lớp vi tính hoặc cộng hưởng từ hạt nhân được chỉ định để phát hiện viêm cơ thắt lưng chậu, tổn thương đốt sống hoặc tủy sống.

Điều trị bệnh viêm cơ nhiễm khuẩn như thế nào?

Có những trường hợp viêm cơ nhiễm khuẩn chỉ cần điều trị nội khoa đơn thuần, song có những trường hợp phải kết hợp cả nội khoa và phẫu thuật. Dùng kháng sinh sớm, thích hợp. Cần phải điều trị kháng sinh đủ thời gian là khoảng 6 tuần. Nếu bệnh nhân sốt cao và đau nhiều thì cần dùng thêm thuốc hạ sốt, giảm đau. Cần nâng cao thể trạng cho bệnh nhân. Khi đã hình thành ổ mủ trong cơ thì cần phải chọc hút dẫn lưu mủ hoặc phẫu thuật để dẫn lưu mủ và lọc bỏ tổ chức hoại tử. Ngoài ra cần điều trị các biến chứng như viêm khớp, suy thận, sốc nhiễm khuẩn.

Làm thế nào để phòng bệnh viêm cơ nhiễm khuẩn?

Cần thực hiện vô khuẩn tuyệt đối khi làm thủ thuật như châm cứu, tiêm truyền, tiêm vào khớp… Điều trị tốt các nhiễm khuẩn tại da (mụn nhọt, vết loét…). Không làm vỡ, chích nặn sớm các thương tổn mụn nhọt ngoài da. Cần điều trị tốt một số bệnh nguy cơ, đặc biệt là đái tháo đường. Cần tránh lạm dụng corticoid trong điều trị.

(Theo SK&ĐS)


Vitamin E làm tăng 9 lần nguy cơ mắc bệnh tim ở trẻ

Tháng Năm 25, 2012

Các chuyên gia lâm sàng thuộc Trung tâm y tế trường Đại học Rotterdam (Newzealand) đã khẳng định rằng, sử dụng các chất phụ gia của vitamin E trong quá trình mang thai sẽ làm tăng nguy cơ mắc các bệnh về tim của trẻ sơ sinh lên tới 9 lần.

Các nhà khoa học Newzealand cho rằng, chỉ cần một lượng nhỏ chất phụ gia của vitamin E trong quá trình mang thai cũng làm cho nguy cơ dị tật và các bệnh về tim của trẻ sơ sinh cao gấp 9 lần so với bình thường.

Vitamin E có trong rất nhiều các loại thực phẩm khác nhau như: đào, lê, dầu ô liu. Chúng rất tốt cho sức khỏe của con người. Các bác sỹ khuyến cáo rằng, sẽ rất an toàn cho các bà bầu khi hấp thụ vitamin E từ các loại thực phẩm và hoa quả nguyên chất có kết hợp với chế độ ăn uống điều độ, đủ dinh dưỡng.

Các chuyên gia lâm sàng thuộc Trung tâm y tế trường Đại học Rotterdam (Newzealand) đã khẳng định rằng, sử dụng các chất phụ gia của vitamin E trong quá trình mang thai sẽ làm tăng nguy cơ mắc các bệnh về tim của trẻ sơ sinh lên tới 9 lần.

Các nhà khoa học Newzealand cho rằng, chỉ cần một lượng nhỏ chất phụ gia của vitamin E trong quá trình mang thai cũng làm cho nguy cơ dị tật và các bệnh về tim của trẻ sơ sinh cao gấp 9 lần so với bình thường.

Vitamin E có trong rất nhiều các loại thực phẩm khác nhau như: đào, lê, dầu ô liu. Chúng rất tốt cho sức khỏe của con người. Các bác sỹ khuyến cáo rằng, sẽ rất an toàn cho các bà bầu khi hấp thụ vitamin E từ các loại thực phẩm và hoa quả nguyên chất có kết hợp với chế độ ăn uống điều độ, đủ dinh dưỡng.

Tuy nhiên, các chuyên gia cũng khuyến cáo rằng, cần phải tránh các chất phụ gia của vitamin, trong đó có cả phụ gia của vitamin E vì nó ảnh hưởng tới quá trình phát triển bình thường của thai nhi.

Các bác sĩ khoa nhi sau khi tiến hành nghiên cứu tình trạng sức khoẻ cho 276 trẻ sơ sinh mang khuyết tật tim bẩm sinh và 324 đứa trẻ khoẻ mạnh đã đưa ra nhận định rằng, tình trạng sức khỏe của thai nhi có liên quan trực tiếp tới chế độ ăn uống của bà mẹ.

Đồng thời, các yếu tố như tiểu sử bệnh tật của gia đình, tuổi tác của cha mẹ, tình trạng tim của bà mẹ, thói quen xấu như hút thuốc, uống rượu cũng như sử dụng các chất phụ gia của vitamin, hay hàm lượng vitamin E cao trong cơ thể bà mẹ khi mang thai cũng là nguyên nhân gây ra những thiếu hụt trong chức năng hoạt động của quả tim của thai nhi.

Theo VTCNews/Newsland


Chăm sóc lưng đúng cách

Tháng Năm 24, 2012

Tư thế sai thường là nguyên nhân gây ra đau lưng. Để hạn chế hiện tượng này, bạn có thể chăm sóc lưng hàng ngày bằng những biện pháp đơn giản cho lúc đi bộ, ngồi lâu, bê vật nặng, ngồi trước màn hình hay lái xe…

Đi bộ: Chọn những loại giày có gót phù hợp: ngay cả khi là mốt, những chiếc giày cao gót đều gây chấn thương cho lưng. Nếu giày quá bằng phẳng, chúng có thể làm lún cột sống. Lý tưởng nhất là giày cao khoảng 3 cm.

Tư thế ngồi kéo dài: Ngồi lâu làm căng cơ và gây ra những cơn đau vùng thắt lưng vì rằng sức ép khi ngồi lớn hơn khi đứng. Chúng ta phải phân chia lực nặng trên toàn cột sống mà không làm đốt sống thắt lưng phải gánh quá nặng.

Khi ngồi trước màn hình máy tính hay bàn làm việc: Hãy ngồi thẳng, nhưng không cứng quá. Hãy đặt bàn chân trên mặt phẳng, sao cho cột sống thắt lưng, hông và đầu bạn làm thành một đường thẳng. Nên đặt trên ghế ngồi một cái giá đỡ lưng như gối.

Lái ôtô: Không nên dính chặt vào vôlăng. Tay của bạn phải mềm mại, lưng thẳng và cố gắng đừng đưa người về phía trước quá nhiều. Đặt chiếc gối dưới mông bạn có thể giúp bạn có tư thế đúng.

Dù đang ở bàn làm việc, trước máy tính, hay cầm vô lăng xe ô tô, hãy nghĩ tới việc vươn vai đều đặn và nghỉ ngơi một chút.

Nâng một vật nặng: Khi nâng một vật nặng, phải ngồi xổm để sử dụng đến chân của bạn mà không phải là lưng: gập đùi của bạn, nửa người trên thẳng, đối diện với vật nặng cần nâng. Rồi đứng người dậy, giữ vật nặng gần cơ thể. Khi đi chợ, phân chia các túi ra đều hai tay. Mang đồ vật ở một bên tay sẽ bắt lưng của bạn phải gắng sức để tạo sự cân bằng và rất dễ bị đau lưng.

Ngủ: Không nên dùng đệm quá mềm hoặc quá cứng. Không nên dùng gối quá dài hoặc quá cao, cổ của bạn sẽ đau khi không ở trục bình thường.

(Theo Sức Khoẻ và Đời Sống)


Cặp “siêu nặng”: Gây đau lưng, vẹo cột sống

Tháng Năm 23, 2012

Hiệp hội Vật lý trị liệu Mỹ khẳng định việc đeo cặp quá nặng hoặc đeo không đúng cách sẽ làm tăng nguy cơ chấn thương vùng lưng, cổ, vai do các cơ ở đây phải vận động quá sức dẫn đến căng, mỏi.

Theo Jerome McAndrews, thành viên Hiệp hội Trị liệu thần kinh cột sống Mỹ, những tổn thương do việc đeo cặp quá nặng ở tuổi học sinh thậm chí có thể dẫn đến những di chứng xương khớp khi đã bước sang tuổi trung niên.

Tuy nhiên, quan điểm này vẫn còn gây tranh cãi. Tiến sĩ Lori Karol, người phát ngôn của Học viện phẫu thuật chỉnh hình Mỹ AAOS cho rằng các ông bố bà mẹ không nên quá lo lắng về nguy cơ vẹo cột sống hay các biến dạng tương tự ở vùng lưng do đeo cặp nặng vì cho đến nay, vẫn chưa có nghiên cứu nào chứng minh được mối liên hệ giữa hai vấn đề nói trên.

Để hạn chế tối đa ảnh hưởng của chiếc cặp đến sức khoẻ của con em, các bậc phụ huynh có thể tham khảo một số lời khuyên của các chuyên gia AAOS:

Nên chọn loại cặp có quai rộng bản bằng chất liệu dày, mềm mại (tốt nhất là quai may độn mút). Không nên mua cặp bằng da hoặc vải bạt vì những chất liệu này dù bền nhưng thường rất nặng (riêng cặp đã có thể nặng vài kg). Cặp bằng chất liệu nylon là tối ưu vì nhẹ và dễ giặt. Nên chọn loại cặp có nhiều ngăn vì như vậy vừa dễ phân tán đều trọng lượng những đồ vật cần mang theo trong cặp, vừa giúp các em nhanh chóng tìm thấy thứ mình cần.

Chỉnh lại quai sao cho khi đeo, cặp không lỏng lẻo mà nằm gần sát vào giữa lưng, mép trên cặp gần vai, mép dưới không trễ quá 10cm dưới eo lưng. Tuy nhiên, cũng nên chú ý là quai cặp phải đủ dài để các em có thể đeo hoặc tháo cặp dễ dàng.

Hướng dẫn các em cách sắp xếp vở và đồ dùng học tập vào cặp. Chỉ nên mang theo những thứ cần thiết cho buổi học, không mang truyện, trò chơi điện tử, đồ ăn vặt… Những thứ nhỏ, nhẹ xếp sau ở các ngăn phụ.

Khuyến khích các em đeo cặp bằng cả hai vai, không đeo lệch về một bên hoặc xách ở tay.

PGS Dương Xuân Đạm, nguyên trưởng khoa vật lý trị liệu, Bệnh viện 108:

Đeo cặp nặng ảnh hưởng đến cột sống của trẻ

Cách đây 7 – 8 năm, tôi đã làm một điều tra đối với học sinh tiểu học về vấn đề này. Có những trường, có tới gần 20% trẻ lệch, vẹo cột sống. Các em đeo bao lô sau lưng thì vẹo về phía trước. Đeo bên hông thì vẹo cột sống, lỗi không chỉ do đeo cặp, còn do ngồi học không đúng tư thế, do bàn ghế chưa chuẩn so với tầm vóc.

Cách tốt nhất để không làm trẻ cột sống là để trẻ học mà chơi, chơi mà học, đừng bắt chúng học nhiều môn để phải mang nhiều sách vở quá. Hiện nay, có những môn học mà một môn kèm theo mấy quyển sách. Như vậy, ngoài việc quá tải học, trẻ còn bị quá tải bởi sự mang vác nặng so với trọng lượng cơ thể. Khi trẻ đã bị cong vẹo cột sống, việc chữa trị bằng phẫu thuật, luyện tập, chỉnh hình sẽ rất khó khăn, tốn kém, mất nhiều thời gian.

(Theo KH&ĐS)


Follow

Get every new post delivered to your Inbox.